Báo giá liệt kê những gì có thể đếm được. Các khoản dưới đây khó đếm lúc ký hợp đồng nhưng rất thật khi vận hành, và chúng là lý do phổ biến khiến hoàn vốn chậm hơn kế hoạch.
Thời gian chuyển đổi mã hàng
Nếu nhà máy chạy nhiều mã hàng, mỗi lần đổi mã là một lần trạm ngừng: thay đồ gá, đổi chương trình, chạy thử vài sản phẩm đầu.
Với trạm được thiết kế cho một mã, thời gian này có thể lên tới hàng giờ. Với trạm thiết kế có chuyển đổi nhanh, nó xuống còn vài phút.
Khi số lần đổi mã trong một tháng lớn, khoản này ăn vào năng suất nhiều hơn cả các sự cố kỹ thuật. Nên đưa số lần đổi mã dự kiến vào yêu cầu kỹ thuật ngay từ đầu, để bên thiết kế tính vào phương án.
Xử lý ngoại lệ và thời gian trực
Trạm chạy tự động không có nghĩa là không cần người. Câu hỏi đúng là người phải có mặt trong bao nhiêu phần trăm thời gian.
Nếu trạm kẹt trung bình vài lần mỗi giờ và mỗi lần cần người xử lý, thực chất vẫn phải có một người trực bên cạnh, và phần tiết kiệm nhân công trong bài toán đầu tư biến mất.
Đây là lý do tần suất ngoại lệ quan trọng hơn nhịp chu kỳ khi thẩm định. Một trạm chậm hơn mười phần trăm nhưng ít kẹt hơn năm lần thường có giá trị kinh tế cao hơn hẳn.
Tuỳ chọn phần mềm và bản quyền
Nhiều chức năng của bộ điều khiển robot là tuỳ chọn có phí: giao tiếp với một chuẩn truyền thông cụ thể, chức năng an toàn nâng cao, gói thị giác, gói bám băng chuyền.
Nếu không tính từ đầu, chúng xuất hiện dưới dạng phát sinh giữa dự án, khi đã quá muộn để đổi phương án.
Cách phòng: yêu cầu bên cung cấp liệt kê rõ những gì đã bao gồm và những gì là tuỳ chọn, kèm giá, ngay trong báo giá đầu tiên. Đồng thời hỏi các chức năng dự kiến sẽ cần trong hai năm tới, vì bổ sung sau thường đắt hơn.
Đào tạo lại và luân chuyển nhân sự
Đào tạo một lần lúc bàn giao là chưa đủ, vì nhân sự thay đổi. Sau một hai năm, người được đào tạo ban đầu có thể đã chuyển việc hoặc chuyển bộ phận.
Nhà máy nào không có tài liệu và quy trình đào tạo nội bộ sẽ phải mua lại dịch vụ đào tạo, hoặc tệ hơn là vận hành với người chỉ biết bấm nút mà không hiểu máy.
Khoản này rẻ nếu chuẩn bị sớm: quay video thao tác chuẩn ngay khi bàn giao, viết quy trình bằng ngôn ngữ người vận hành, và luôn đào tạo ít nhất hai người cho mỗi vai trò.
Hai khoản còn lại: hạ tầng và phụ thuộc
Sửa hạ tầng. Nền không đủ cứng gây rung, lưới điện yếu gây lỗi ngẫu nhiên, khí nén không đủ khô làm hỏng van. Các vấn đề này thường lộ ra sau khi trạm đã lắp, và việc sửa lúc đó tốn kém hơn nhiều so với làm đúng từ đầu.
Phụ thuộc nhà cung cấp. Nếu không có chương trình nguồn, không có tài liệu, không có người trong nhà hiểu hệ thống, thì mọi thay đổi nhỏ đều phải mua dịch vụ. Chi phí này không xuất hiện trong năm đầu nhưng tích luỹ dần theo vòng đời trạm.
Cả hai khoản đều giảm được bằng các quyết định rẻ tiền ở giai đoạn đầu: khảo sát hạ tầng nghiêm túc, và đưa điều khoản bàn giao tài liệu cùng chương trình nguồn vào hợp đồng.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao ước lượng tần suất ngoại lệ trước khi lắp trạm?
Đếm thủ công trong vài ca sản xuất hiện tại: bao nhiêu lần phôi lỗi, bao nhiêu lần phải chỉnh tay, bao nhiêu lần dừng vì lý do ngoài kế hoạch. Con số này dự báo khá tốt số lần trạm tự động sẽ cần người can thiệp.
Chi phí chuyển đổi mã hàng giảm được bằng cách nào?
Bằng đồ gá có chốt định vị chuẩn để thay nhanh, bộ đổi công cụ tự động, và chương trình viết theo tham số thay vì mã cứng từng vị trí. Các biện pháp này tốn thêm khi đầu tư nhưng hoàn lại rất nhanh nếu số lần đổi mã trong tháng lớn.
Có nên đàm phán chương trình nguồn vào hợp đồng không?
Nên, đây là điều khoản có giá trị lâu dài nhất mà lại ít tốn kém khi đàm phán lúc đầu. Nếu bên tích hợp muốn bảo vệ thư viện riêng, có thể thoả thuận ký gửi bản nguồn cho bên thứ ba để nhà máy nhận lại khi cần.
Khoản ẩn nào gây thiệt hại lớn nhất trong thực tế?
Thường là thời gian trực xử lý ngoại lệ, vì nó âm thầm xoá đi phần tiết kiệm nhân công vốn là lý do chính của dự án. Nó cũng khó phát hiện trên báo cáo, do trạm vẫn được ghi nhận là đang chạy tự động.
Đọc thêm trong Nhập môn robotics và Ứng dụng theo ngành.